Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013

Giá thép tiếp tục giảm 900.000 đồng/tấn

Son kova  | Xây dựng - Kiến trúc  | Nội - Ngoại thất  | Phong thủy

 

Số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, lượng thép xây dựng sản xuất trong tháng 8 đạt 350.000 tấn, tăng hơn 9% so với tháng trước, nhưng giảm 20% so với cùng kỳ năm 2011

Giá thép tiếp tục giảm 900.000 đồng/tấn | ảnh 1
Tiêu thụ thép trong tháng 8 chỉ đạt 350.000 tấn, giảm 27% so với cùng kỳ năm ngoái; Hiện toàn ngành thép tồn kho 320.000 tấn.

Ông Phạm Chí Cường, chủ tịch Hiệp hội Thép VN, cho biết hiện lượng thép thành phẩm và phôi thép đang còn nằm tại kho của các doanh nghiệp sản xuất khoảng 520.000 tấn, trong khi dự báo tiêu thụ thép của các tháng tới được xác định cầu vẫn ở mức rất thấp.

Để tiêu thụ sản phẩm các công ty sản xuất, tiêu thụ đã tiếp tục giảm thêm từ 300.000 - 900.000 đồng/tấn. Hiện giá thép niêm yết tại nhà máy, chưa có thuế ở mức 15,7 - 16,2 triệu đồng/tấn ở miền Bắc; từ 15,3 - 17,1 triệu đồng/tấn ở miền Nam.

Giá bán thực tế của các công ty chưa tính VAT hiện phổ biến ở mức 15,1 - 15,5 triệu đồng/tấn đối với thép tròn cuộn và từ 15,1 - 15,5 triệu đồng/tấn đối với thép.

(Theo KTĐT)

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành vật liệu xây dựng

Son kova  | Xây dựng - Kiến trúc  | Nội - Ngoại thất  | Phong thủy

 

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng vừa có buổi làm việc với các hiệp hội và DN sản xuất vật liệu xây dựng để tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các DN ngành này.

Số liệu thống kê cho thấy, thời gian qua, các DN sản xuất vật liệu xây dựng từ thép, gạch, xi măng đến gốm sứ đều chủ động giảm công suất, nhưng lượng hàng tồn kho vẫn không hề giảm. Trong khi lượng tồn kho xi măng đã về ngưỡng an toàn với khoảng 1,5 triệu tấn, thì tồn kho của ngành thép đang ở mức báo động với gần 400.000 tấn.

Ông Đinh Quang Huy, Chủ tịch Hiệp hội Gốm sứ cho biết, năng lực sản xuất của các DN đá ốp lát đạt 10 triệu m2 sản phẩm/năm, nhưng phải cắt giảm 50% lao động, trong khi ngành gốm sứ xây dựng hiện chỉ khai thác 70% công suất thiết kế. Hiện lượng hàng tồn kho của ngành gốm sứ xây dựng đã tăng lên 20%, với trên 40 triệu m2 gạch ốp lát và trên 1 triệu sản phẩm sứ vệ sinh, tương đương khoảng trên 3.000 tỷ đồng. Gạch bê tông khí chưng áp (AAC) cũng rơi vào tình trạng bi đát với 12 nhà máy có công suất thiết kế khoảng 1,5 triệu m3/năm, nhưng chỉ sản xuất 15% công suất và tiêu thụ chỉ đạt 15% lượng sản xuất.

Ngành kính cũng không khá hơn, cả nước có 4 nhà máy kính nổi hoạt động với 90% công suất (tương đương 273.000 tấn), nhưng tiêu thụ chỉ đạt 191.000 tấn, tương đương 70% lượng sản xuất. Lượng tồn kho vào khoảng 265.000 tấn, tương đương 5 tháng sản xuất. Không chỉ tiêu thụ kính nổi giảm, kính gia công như kính cường lực và kính dán an toàn cũng giảm khoảng 40 - 45%.
Tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành vật liệu xây dựng | ảnh 1
Trong khi đầu ra khó khăn, các DN sản xuất vật liệu xây dựng lại phải chịu thêm gánh nặng đầu vào khi giá nhiên liệu, điện, than, xăng… đều tăng; lãi suất ngân hàng vẫn ở mức cao...

Theo phản ánh của các hiệp hội, lượng tồn kho lớn, kinh doanh thua lỗ khiến nhiều DN sản xuất cầm chừng hoặc dừng sản xuất, thậm chí đứng bên bờ vực phá sản.

Trước những khó khăn trên, các DN đều kiến nghị Chính phủ cần có biện pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, để khơi thông đầu ra. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần giảm lãi suất vay, giảm thuế VAT, đồng thời có biện pháp để chống hàng nhập lậu, cũng như cho rà soát và bổ sung các hàng rào kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã dư thừa…

Ông Nguyễn Ngọc Anh, Tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM) kiến nghị, nên nới rộng hạn mức vay cho ngành xi măng, bởi suất đầu tư cho xi măng quá lớn. Bình quân mỗi dây chuyền xi măng công suất 1 - 1,4 triệu tấn có mức đầu tư khoảng từ 2.500 - 3.500 tỷ đồng, bằng mức đầu tư của 10 - 15 nhà máy gạch AAC. Mặc dù ngành xi măng đã tìm đủ mọi cách để khơi thông đầu ra, nhưng sản lượng tiêu thụ vẫn giảm khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước. Hiện sản xuất và tiêu thụ xi măng chỉ đạt 70 - 75% công suất thiết kế.

Ông Nguyễn Văn Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết, Hiệp hội có 4 kiến nghị là giảm lãi suất, giãn nợ, khoanh nợ và giảm thuế VAT xuống còn 5%, Chính phủ đã giải quyết 3 khiến nghị, còn kiến nghị giảm thuế VAT xuống còn 5% vẫn chưa được chấp nhận. Chính phủ đã quy định ngành than phải bán cho xi măng dưới 10% giá xuất khẩu, nhưng hiện giá than bán cho xi măng cao hơn giá xuất khẩu. Không riêng gì xi măng, ngành thép và kính cùng có kiến nghị giảm 5% thuế VAT.

Ông Nguyễn Văn Chung, Tổng thư ký Hiệp hội Kính Việt Nam kiến nghị, ngoài việc miễn giảm thuế cho các DN sản xuất kính, Chính phủ cũng nên tăng thuế nhập khẩu, thiết lập hàng rào kỹ thuật đối với các sản phẩm kính gia công trong nước.

Ông Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng cho rằng, bên cạnh việc hạ lãi suất, Chính phủ cần khoanh nợ, giãn nợ cho các DN và phải có chính sách kích cầu mới giải quyết tận gốc vấn đề tồn kho vật liệu xây dựng. Trong đó, chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng bằng bê tông xi măng của Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải cần sớm được triển khai.

Từ những kiến nghị của các hiệp hội và DN vật liệu xây dựng, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam cho biết, bên cạnh những giải pháp dài hạn như xem xét lại quy hoạch, xây dựng chiến lược xuất khẩu vật liệu xây dựng…, biện pháp trước mắt để giúp các DN vật liệu xây dựng vượt qua khó khăn là giảm thuế, giảm lãi vay, chống hàng lậu…

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cho biết, Bộ sẽ nghiên cứu cụ thể và đề xuất giải pháp lên Thủ tướng Chính phủ, nhằm ban hành các chính sách để tháo gỡ khó khăn cho ngành vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi các giải pháp hỗ trợ từ Chính phủ, các DN vật liệu xây dựng cần chủ động cấu trúc lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của DN.

“Thị trường vật liệu xây dựng đang như cơ thể không muốn ăn”
Ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Gạch Đồng Tâm Long An

Thị trường vật liệu xây dựng thời gian qua quá khó khăn đã ảnh hưởng nhiều đến DN. Vì vậy, chúng tôi phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất - kinh doanh cho phù hợp, để tránh lượng hàng tồn. Có lúc chúng tôi đã phải giảm công xuất sản xuất từ 10 - 30%, trong đó tháng Tết phải ngừng sản xuất.

Đúng là việc bán hàng trong bối cảnh hiện nay rất khó khăn. Để tăng lượng bán ra, việc giảm giá bán đang là một xu hướng chung và Đồng Tâm cũng áp dụng để phù hợp với thị trường. Tuy nhiên, chúng tôi tạo ra một chính sách giá cả hợp lý, có chính sách chiết khấu hợp lý cho các đại lý, thay vì cứ liên tục giảm giá. Hiện thị trường vật liệu xây dựng giống như một cơ thể không muốn ăn uống, vì thế, để bán được hàng, chúng tôi phải tạo ra những mẫu mã mới phù hợp thị trường. Trong khi thị trường trong nước khó khăn và cạnh tranh khốc liệt, chúng tôi đã tính đến việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm. Trong đó, các nước như Iraq, Ai Cập, Trung Đông, chúng tôi đã bán được nhiều sản phẩm.

Do thị trường hết sức khó khăn, nên hiện chúng tôi không đặt mục tiêu tăng trưởng cao, lợi nhuận nhiều, mà chỉ mong giữ được khách hàng. Thậm chí, trong giai đoạn hiện nay, nếu có lỗ một chút thì cũng phải chấp nhận để trụ vững trên thị trường.

“Hàng đổi hàng là phương thức tốt cho cả DN vật liệu xây dựng và chủ dự án”
Ông Đỗ Việt Anh, Giám đốc CTCP Nishu Nam Hà

CTCP Nishu Nam Hà chuyên sản xuất các loại sơn dân dụng và công nghiệp. Trong bối cảnh khó khăn của thị trường bất động sản, Công ty đã tiết giảm chi phí, giảm sản lượng để duy trì hoạt động. Công ty cũng đã áp dụng nhiều giải pháp để đẩy mạnh việc bán hàng, giảm thiểu hàng tồn kho, thu hồi vốn nhanh để xoay vòng sản xuất.

Cụ thể, đối với phân khúc dân cư, Công ty đã áp dụng hình thức quảng bá tập trung vào từng khu vực cụ thể chứ không làm tràn lan như trước đây.

Với phân khúc dự án chung cư, Công ty xác định đây là thị trường chính nên đã tập trung tiếp thị mạnh mẽ. Công ty cũng áp dụng phương thức mới là “hàng đổi hàng”, tức Công ty cung cấp sơn cho dự án và chủ dự án sẽ trả bằng căn hộ.

Tôi cho rằng, đây là một phương thức hay và nếu được nhân rộng sẽ đem lại lợi ích cho nhiều bên. Công ty vừa bán được hàng, vừa thu được sản phẩm căn hộ để đáp ứng nhu cầu của cán bộ nhân viên hoặc coi như một khoản đầu tư dài hạn. Chủ đầu tư có vật liệu để hoàn thiện dự án. Người tiêu dùng cũng có lợi ích khi tiến độ dự án được đẩy nhanh.

“Thị trường ngày càng chuộng sản phẩm thân thiện với môi trường”
Ông Nguyễn Công Cường, Phó giám đốc CTCP Tập đoàn phát triển Đoàn Minh Công

Là một đơn vị chuyên sản xuất gạch xi măng cốt liệu được thành lập từ năm 2007, nhưng từ đầu năm 2011 đến nay thực sự là thời gian khó khăn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng nói chung, trong đó có Công ty Đoàn Minh Công. Để vượt qua khó khăn, Công ty đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ.

Hiện nay, Công ty không chủ trương mở rộng quy mô sản xuất mà tập trung vào việc duy trì, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến nay, sản phẩm của Công ty đã được sử dụng tại rất nhiếu dự án cao cấp như: Tòa nhà Keangnam, Hei Tower, Dự án Huyndai (Hà Đông), Vincom Village…

Sản phẩm gạch xi măng chốt liệu dần được thị trường chấp nhận càng chứng tỏ chủ trương phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường là đúng đắn. Hiện tại, chúng tôi đang chạy hết công xuất nhà máy (35 triệu viên gạch block/năm) để cung cấp cho thị trường.
(Theo ĐTCK)

Giải pháp chống dột trong mùa mưa bão

Son kova  | Xây dựng - Kiến trúc  | Nội - Ngoại thất  | Phong thủy

 

Cùng với sự ngập lụt, nhà bị dột cũng trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người dân trong những tháng cuối năm. Sản phẩm vữa khô polyme Mova được coi là một giải pháp thích hợp với thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam trong mùa mưa bão.

Chị Nguyễn Thị Hương Huyền (ở phố Hoàng Mai – một trong những “rốn ngập” của Hà Nội) cho biết, ngôi nhà của chị mới xây được hơn một năm. Thời gian gần đây, khi những cơn mưa lớn bắt đầu xuất hiện rồi kéo dài liên tiếp thì nhà chị cũng bắt đầu … dột. Chị Huyền bức xúc: “Ngày xưa, ở nhà cấp 4, mái ngói giấy dầu thì chuyện phải mang nồi niêu xong chảo ra hứng nước mưa dột đã đành một nhẽ. Nhưng bây giờ, gom góp, vay mượn mới xây được cái nhà tầng, mái bằng, quét sơn, ốp gạch màu mà nước vẫn dột… tong tong thì làm sao mà chịu nổi.”

Giải pháp chống dột trong mùa mưa bão | ảnh 1
Với sản phẩm vữa khô polyme Mova thì những hiện tượng thấm dột như thế này không còn là nỗi lo lắng nữa.

Cùng chung cảnh ngộ với chị Huyền, rất nhiều hộ gia đình ở Thanh Xuân, Hoàng Mai, Thanh Trì, Cầu Giấy (những điểm nóng về ngập lụt)… cũng phải chịu cảnh nước từ ngoài đường tràn vào, nước từ trên trần nhà rỏ xuống. Mỗi khi trời mưa lớn, phố biến thành sông, tường nhà luôn ướt sũng. “Nước tràn từ ngoài đường vào thì chúng tôi còn đắp bờ chắn được, chứ nước dột từ trên trần xuống thì đúng là chẳng biết phải làm sao. Vá lại trần trông rất xấu mà có khi cũng chả trụ được với tình hình mưa bão như hiện nay.” Chị Huyền tâm sự.

Trước nỗi lo lắng của rất nhiều hộ dân, kỹ sư Vũ Thị Nguyệt, Giám đốc nhà máy Hóa chất xây dựng A&P, một người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cho biết: “Hiện nay, hiện tượng thấm dột không chỉ xẩy ra ở những chung cư cao tầng mà còn xuất hiện nhiều ở các khu nhà riêng, thậm chí là ở các biệt thự cao cấp. Nguyên nhân là vì những công trình này không xử lý hoặc xử lý kém việc chống thấm phần mái nhà. Khi xây dựng, nhà thầu đã sử dụng loại vữa xây, vữa trát truyền thống, được trộn từ xi măng và cát chưa qua sàng lọc. Cát có lẫn nhiều tạp hại, bùn sét, gỗ mục, tạp chất hữu cơ nên khi trộn đã tạo ra những lỗ rỗng và liên kết rời rạc. Trời mưa, nước mưa thấm vào những lỗ rỗng đó gây ra tình trạng thấm dột”.

Hiểu rõ được nguyên nhân thì cách giải quyết không còn là vấn đề nan giải. Có một tin vui cho những gia đình như chị Hương. Hiện trên thị trường có một loại vật liệu xây dựng có thể “cứu nguy” cho những ngôi nhà thấm dột này. Đó là vữa khô polyme Mova. Vữa khô Polyme Mova được sản xuất trên dây chuyền hiện đại, khép kín, công suất lớn theo công nghệ của CHLB Đức. Công nghệ này sử dụng vật liệu Nano, xi măng Polyme, cốt liệu chọn lọc và các phụ gia đa chức năng nhập khẩu nên có thể khắc phục nhược điểm hay co ngót của xi măng truyền thống. Khi bổ sung các phụ gia đa chức năng, các nhà sản xuất đã cải thiện và nâng cao các tính chất ưu việt về độ bền, độ bám dính, khả năng chống thấm, kháng khuẩn và chống co ngót. Chính vì vậy, vữa khô polyme Mova có thể khắc phục được mọi nhược điểm của vữa trộn tay truyền thống”. Nhưng điều đặc biệt đáng quan tâm là với vữa khô polyme Mova, người sử dụng có thể dán ngay lên bề mặt trần mà không phải bóc đi lớp vật liệu cũ, rất tiện lợi cho việc sửa chữa, chống thấm.

Để yên tâm chống chọi lại những cơn mưa kéo dài, đảm bảo an toàn cho các cá nhân và tài sản, mỗi gia đình nên lựa chọn những phương pháp tốt nhất để “củng cố” ngôi nhà – nơi trú chân quan trọng nhất.(Theo Baoxaydung)

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

Thị trường VLXD không nung: Còn lắm gian nan

Son kova  | Xây dựng - Kiến trúc  | Nội - Ngoại thất  | Phong thủy

 

Trong những năm qua, mặc dù được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hết mức nhưng vật liệu xây dựng (VLXD) không nung vẫn chưa thể “bật” lên được. Mặc dù được xem là loại hình phát triển tốt trong điều kiện thị trường VLXD ngặt nghèo như hiện nay nhưng tương lai của VLXD không nung vẫn vô cùng gian nan.

Khi công nghệ không thắng nổi… thủ công

Theo thống kê của Hội VLXD, mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 20 tỷ viên gạch. Với đà phát triển này, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng hơn 40 tỷ viên.

Để đạt mức đó, diện tích đất phải sử dụng để lấy đất sét làm gạch lên tới 30.000ha. Điều này cũng đồng nghĩa một diện tích lớn đất nông nghiệp sẽ phải “hy sinh” vì gạch, ảnh hưởng lớn tới vấn đề lương thực, chưa kể vấn đề ô nhiễm môi trường.

Trong khi đó, nếu đem lên bàn cân, VLXD không nung sẽ thắng áp đảo về những ích lợi có thể nhìn thấy rõ: Không sử dụng đất sét nên không ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp; không qua quá trình nung nên sẽ không xả khí CO2 ra môi trường; diện tích viên gạch lớn hơn nên tính giá thành trên đơn vị m2 tường sẽ rẻ hơn gạch nung rất nhiều…

Theo các chuyên gia, nhiều nước trên thế giới đã loại bỏ vật liệu nung và thay thế bằng vật liệu xây không nung vì những lợi ích ưu việt. Tại Việt Nam, ngoài chính sách khuyến khích chung, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ thị nêu rõ các công trình xây dựng nhà cao tầng, không phân biệt nguồn vốn, phải ưu tiên và phải sử dụng VLXD không nung tối thiểu 30% trong tổng số VLXD.

Tuy nhiên, cho đến nay, VLXD không nung (chủ yếu là gạch) gần như vẫn chìm lấp trên thị trường, ngoài các công trình cao tầng, loại vật liệu này gần như không được người dân đón nhận. Chiến lược phát triển ngành công nghiệp VLXD đến năm 2020 đã đề ra mục tiêu phát triển sản xuất VLXD không nung thay gạch đất sét nung vào năm 2010 là 20%.

Tuy nhiên, theo các con số thống kê chưa đầy đủ, tỷ lệ này mới đạt khoảng 5% và tình hình cũng không lạc quan hơn cho đến thời điểm này. Đây cũng là lý do khiến VLXD không nung “thua trắng”.

Theo TS. Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam, vật liệu không nung chậm đi vào đời sống do thói quen của người dân vốn đã quen sử dụng gạch đất sét nung cỡ nhỏ, xây dựng theo lối thủ công truyền thống, nên để thay đổi không dễ. Bên cạnh đó, dù gạch không nung đã được sử dụng trong các dự án, nhưng hầu hết công trình sử dụng gạch không nung đều do các nhà thiết kế và chủ đầu tư nước ngoài yêu cầu.

Các công trình trong nước còn ít sử dụng do các quy chuẩn, tiêu chuẩn sản phẩm về VLXD không nung, kết cấu kiến trúc… chưa được ban hành đồng bộ, đầy đủ.

Không dễ thay đổi thói quen

Theo các chuyên gia, VLXD không nung có đủ 2 yếu tố “thiên thời, địa lợi”, nhưng “nhân” chưa “hòa”. Xây dựng các công trình nhà ở bằng gạch nung đã có truyền thống lâu đời trong nhân dân và không thể thay đổi trong một sớm một chiều. Đây cũng là vấn đề khó khăn nhất khiến loại VLXD này chưa thể phổ biến sâu rộng.

Thị trường VLXD không nung: Còn lắm gian nan | ảnh 1
Một phân xưởng sản xuất gạch không nung.

Theo ông Nguyễn Công Cường, Phó Giám đốc CTCP Tập đoàn ĐMC, về mặt chính sách, các doanh nghiệp sản xuất VLXD không nung có lẽ không cần kiến nghị thêm bởi đã có đủ. Vấn đề căn bản là các địa phương cần quyết liệt hơn nữa trong việc thực thi.

“Một chính sách đi vào thực tế bao giờ cũng có độ trễ. Tuy nhiên, muốn gạch không nung đi được vào đời sống, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân, người làm xây dựng tại địa phương hiểu được những lợi ích của loại gạch này, hạn chế việc sử dụng gạch nung, đồng thời thúc đẩy việc chuyển đổi công nghệ” - ông Cường nói.

Một số ý kiến cho rằng bên cạnh việc hạn chế gạch nung như đánh thuế tài nguyên từ việc khai thác đất sét, quy định bắt buộc công trình phải sử dụng gạch không nung… cần bổ sung cơ chế chính sách để doanh nghiệp xây dựng đào tạo tay nghề, bồi dưỡng kỹ thuật cho các công nhân trực tiếp sử dụng VLXD không nung, phổ biến kiến thức cho các chủ thầu xây dựng địa phương. Bản thân một số doanh nghiệp sản xuất VLXD không nung cũng đã thực hiện chuyển giao công nghệ cho các chủ lò gạch thủ công.

Theo ông Cường, việc sử dụng VLXD không nung sẽ là tất yếu, các công trình hiện đại sau này chủ đầu tư đều có xu hướng sử dụng gạch không nung. Lượng tiêu thụ chưa cao do tiến độ xây dựng dự án đang chững lại, mặt khác các công trình được thiết kế sử dụng gạch nung không thể đổi sang gạch không nung.

Đồng tình với quan điểm này, TS. Trần Văn Huynh cho rằng việc sử dụng VLXD không nung đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên, theo thời gian, người làm xây dựng sẽ thấy được hiệu quả và quen với việc dùng vật liệu này trong các công trình xây dựng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, để thay đổi thói quen trong người dân, cần sự nỗ lực rất lớn từ các địa phương.
(Theo Sài Gòn ĐTTC)

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
son kova | Báo giá sơn kova | bảng màu sơn kova | dịch vụ sơn nhà